
Hàng tồn kho là những tài sản được lưu kho để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường; hàng đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; các loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ được dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Hàng tồn kho bao gồm:
Hàng hóa mua về để bán: hàng tồn kho, hàng mua đang trên đường, hàng gửi bán, hàng hóa gửi gia công chế biến;
Căn cứ theo chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho ban hành tại Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính thì có 4 phương pháp để tính giá trị hàng tồn kho. Do vậy, tùy vào từng loại hình doanh nghiệp mà lựa chọn 1 trong 4 phương pháp để xác định giá trị tồn kho như sau:
a. Phương pháp tính giá hàng tồn kho theo giá đích danh
Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng dựa vào giá trị thực tế của từng loại hàng hoá mua vào, từng loại sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mã hàng hoặc hàng hóa ổn định và nhận diện được.
Ưu điểm:
Tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí thực tế và doanh thu thực tế phù hợp với nhau, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó;
Nhược điểm:
Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện chặt chẽ, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh ít chủng loại hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này.
b. Phương pháp bình quân gia quyền
Theo phương pháp này, giá trị của mỗi mặt hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của mỗi mặt hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị mỗi mặt hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo kỳ hoặc sau mỗi lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
b.1 Bình quân gia quyền cuối kỳ
Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng mỗi lần xuất kho trong kỳ. Tuỳ theo kỳ lưu kho của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán căn cứ vào giá nhập vào, giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân.
Ưu điểm:
Đơn giản, gọn nhẹ, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ;
Nhược điểm:
Độ chính xác không cao, công việc dồn vào cuối kỳ gây ảnh hưởng đến các công việc khác của kế toán và chưa cung cấp kịp thời thông tin kế toán tại thời điểm phát sinh.
b.2 Bình quân gia quyền tức thời (bình quân gia quyền liên hoàn)
Theo phương pháp bình quân liên hoàn, khi nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá xong, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân của mã hàng đó.
Ưu điểm: Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp bình quân cuối kỳ, vừa chính xác, vừa cập nhật được thường xuyên liên tục;
Nhược điểm: Phương pháp này tốn nhiều công sức, phải tính toán nhiều lần. Do vậy, phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít mã hàng tồn kho, có hoạt động nhập xuất ít.
c. Phương pháp nhập trước, xuất trước (phương pháp FIFO)
Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả thiết là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước thì xuất trước và trị giá hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và thực hiện lần lượt cho đến khi chúng được xuất ra hết.
Ưu điểm:
Có thể tính được trị giá vốn hàng xuất kho ngay mỗi lần xuất kho, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các phần hành cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối xấp xỉ với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán phản ánh giá trị thực tế hơn.
Nhược điểm:
Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra dựa trên giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có từ trước nên không phù hợp với chi phí hiện tại của sản phẩm, vật tư, hàng hóa này.
d. Phương pháp nhập sau, xuất trước (phương pháp LIFO)
Áp dụng dựa trên giả thuyết hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì xuất trước,hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này, giá trị hàng xuất kho tính theo giá của lô hàng nhập lần sau cùng, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ.
Ưu điểm:
Có thể tính được trị giá vốn hàng xuất kho ngay mỗi lần xuất kho, vì vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các phần hành cũng như cho quản lý. Chi phí của lần mua gần nhất sát với giá vốn thực tế xuất kho, tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán.
Nhược điểm:
Trị giá vốn của hàng tồn kho còn lại cuối kỳ không phù hợp với thực tế.